Cùng Vietgiftmart tìm hiểu về làng gốm Bát Tràng

Làng gốm Bát Tràng đã có từ lâu đời, thế nhưng, những thông tin về làng gốm thì không phải ai cũng nắm rõ. Hiểu được điều đó, với bài viết này, Vietgiftmart sẽ cung cấp đến bạn đọc toàn bộ thông tin về làng gốm Bát Tràng bao gồm: Lịch sử hình thành, quá trình phát triển và quy trình làm gốm của các nghệ nhân Bát Tràng.

1. Lịch sử hình thành làng gốm Bát Tràng

Làng gốm Bát Tràng đã có từ lâu đời, thế nhưng, lịch sử hình thành làng nghề vẫn là những câu chuyện được người dân nơi đây đem ra bàn cãi mỗi khi nhắc đến. Bởi lịch sử hình thành làng nghề theo sử sách và lịch sử hình thành làng nghề theo những câu chuyện dân gian hoàn toàn là 2 câu chuyện khác nhau. Cụ thể:

Lịch sử hình thành theo sử sách

Theo Đại Việt sử ký toàn thư thì làng gốm Bát Tràng được hình thành trong khoảng thế kỷ 14 – 15. Làng gốm Bát Tràng thuộc huyện Gia Lâm, thành phố Hà Nội, nằm ven đê phía tả ngạn sông Nhị, tức sông Hồng ngày nay. Cũng theo Đại Việt sử ký toàn thư, khi vua Lý Thái Tổ rời đô từ Hoa Lư về Thăng Long, đến bờ tả ngạn sông Nhị (tức sông Hồng), thì phát hiện vùng này có nhiều đất sét trắng, nguồn nguyên liệu quý để làm gốm. Thế là họ dừng chân, lập làng, phát triển nghề làm gốm. Cùng với sự ra đời và phát triển của thành Thăng Long xưa, Bát Tràng vẫn phát triển không ngừng đến ngày nay.

Còn theo Dư địa chí của Nguyễn Trãi có ghi lại: “Làng Bát Tràng làm đồ bát chén” và còn có đoạn “Bát Tràng thuộc huyện Gia Lâm, Huê Câu thuộc huyện Văn Giang. Hai làng ấy cung ứng đồ cống cho Trung Quốc là 70 bộ bát đĩa, 200 tấm vải thâm”…
Lịch sử hình thành theo câu chuyện dân gian

Khác với trong sử sách, theo các câu chuyện dân gian thì làng gốm Bát Tràng có thể được hình thành sớm hơn. Tương truyền, vào thời nhà Lý, có ba vị Thái học sinh là Hứa Vinh Kiều, Đào Trí Tiến và Lưu Phương Tú được cử đi sứ Bắc Tống. Sau khi hoàn tất sứ mệnh, trên đường trở về nước qua Thiều Châu (Trung Quốc) gặp bão, phải nghỉ lại. Ở đây có lò gốm nổi tiếng, ba ông đến thăm và học được một số kỹ thuật đem về truyền bá cho dân chúng quê hương.

Theo đó, Hứa Vĩnh Kiều truyền cho Bát Tràng nước men rạn trắng. Đào Trí Tiến truyền cho Thổ Hà (huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang) nước men sắc màu vàng đỏ. Còn Lưu Phương Tú truyền cho Phù Lãng (huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh) nước men màu đỏ màu vàng thẫm. Câu chuyện trên cũng được lưu truyền ở Thổ Hà và Phù Lãng với ít nhiều sai biệt về tình tiết.
Nếu đúng vậy, nghề gốm Bát Tràng đã có từ thời nhà Lý, ngang với thời Bắc Tống nghĩa là trước năm 1127.

2. Quá trình phát triển của làng gốm Bát Tràng

Lang Gom Bat Trang2

Sự phát triển của làng gốm Bát Tràng qua từng giai đoạn thể hiện rất rõ sự thăng trầm. Cụ thể như sau:

Thế kỷ 15 – Thế kỷ 16

Thời kì này, các chính sách của nhà Mạc đối với công thương rất cởi mở nên kinh tế hàng hoá có điều kiện phát triển thuận lợi hơn, nhờ đó, sản phẩm gốm Bát Tràng được lưu thông rộng rãi. Gốm Bát Tràng thời Mạc có nhiều sản phẩm được ghi rõ năm chế tạo, tên người đặt hàng và người sản xuất. Người đặt hàng trải ra trên một không gian rộng lớn bao gồm nhiều phủ huyện vùng đồng bằng Bắc Bộ và bắc Trung Bộ.

Thế kỷ 16 – Thế kỷ 17

Sau những phát kiến địa lý cuối thế kỷ 15, nhiều nước phát triển của Tây Âu tràn sang phương Đông. Các nước Bồ Đào Nha, Hà Lan, Anh, Pháp… thành lập công ty, xây dựng căn cứ ở phương Đông để buôn bán. Hoạt động mậu dịch hàng hải khu vực Đông Nam Á vốn có lịch sử lâu đời càng trở nên sôi động.

Sau khi thành lập, Trung Quốc chủ trương cấm tư nhân buôn bán với nước ngoài làm cho việc xuất khẩu gốm sứ nổi tiếng của Trung Quốc bị hạn chế. Điều này góp phần tạo điều kiện cho đồ gốm Bát Tràng mở rộng thị trường ở vùng Đông Nam Á
Năm 1567, khi Trung Quốc bãi bỏ chính sách bế quan toả cảng nhưng vẫn cấm xuất khẩu một số nguyên liệu và mặt hàng quan trọng sang Nhật Bản, đã tạo cho quan hệ buôn bán giữa Việt Nam và Nhật Bản đặc biệt phát triển, qua đó nhiều đồ gốm Bát Tràng được nhập cảng vào Nhật Bản.

Năm 1644 Trung Quốc tái lập lại chính sách cấm vượt biển buôn bán với nước ngoài, cho đến năm 1684 sau khi giải phóng Đài Loan. Trong thời gian đó, một số mặt hàng xuất khẩu của Việt Nam, trong đó có đồ gốm Bát Tràng không bị hàng Trung Quốc cạnh tranh nên lại có điều kiện phát triển mạnh.

Có thể nói thế kỷ 15 – thế kỷ 17 là thời kì phát triển mạnh mẽ nhất của làng nghề gốm Bát Tràng

Cuối thế kỷ 17 – Đầu thế kỷ 18

Việc xuất khẩu và buôn bán đồ gốm Việt Nam ở Đông Nam Á bị giảm sút nhanh chóng vì sau khi Đài Loan được giải phóng (1684) và triều Thanh bãi bỏ chính sách cấm vượt biển buôn bán với nước ngoài. Từ đó, gốm sứ chất lượng cao của Trung Quốc tràn xuống thị trường Đông Nam Á và đồ gốm Việt Nam không đủ sức cạnh tranh. Nhật Bản, sau một thời gian đóng cửa để bảo vệ các nguyên liệu quý như bạc, đồng, đã đẩy mạnh được sự phát triển các ngành kinh tế trong nước như tơ lụa, đường, gốm sứ… mà trước đây phải mua sản phẩm của nước ngoài.

Thế kỷ 18 – Thế kỷ 19

Chính sách hạn chế ngoại thương của các chính quyền Trịnh, Nguyễn trong thế kỷ 18 và của nhà Nguyễn trong thế kỷ 19 đã làm cho quan hệ mậu dịch đối ngoại của Việt Nam sa sút và việc xuất khẩu đồ gốm cũng bị suy giảm. Gốm Bát Tràng tuy có bị ảnh hưởng, nhưng vẫn giữ được sức sống bền bỉ nhờ có một thị trường tiêu thụ rộng rãi trong nước với những đồ gia dụng, đồ thờ, đồ trang trí và gạch xây rất cần thiết cho mọi tầng lớp xã hội từ quý tộc đến dân thường. Trong giai đoạn này, gốm Bát Tràng xuất khẩu giảm sút, nhưng làng gốm Bát Tràng vẫn là một trung tâm sản xuất gốm truyền thống có tiếng trong nước.

Gốm Bát Tràng từ thế kỷ 19 đến nay

Trong thời Pháp thuộc, các lò gốm Bát Tràng tuy bị một số xí nghiệp gốm sứ và hàng ngoại nhập cạnh tranh nhưng vẫn duy trì được hoạt động bình thường.

Sau Chiến tranh Đông Dương (1945 – 1954), tại Bát Tràng thành lập rất nhiều xí nghiệp gốm cùng một số hợp tác xã cùng vơi đó là Liên hiệp ngành gốm sứ (1984)… Các cơ sở sản xuất trên cung cấp hàng tiêu dùng trong nước, một số hàng mỹ nghệ và một số hàng xuất khẩu.

Sau năm 1986 làng gốm Bát Tràng có sự chuyển biến lớn theo hướng kinh tế thị trường. Các hợp tác xã lần lượt giải thể hoặc chuyển thành công ty cổ phần, những công ty lớn được thành lập nhưng vẫn còn tồn tại nhiều tổ sản xuất và phổ biến là những đơn vị sản xuất nhỏ theo hộ gia đình.

Hàng trăm năm trôi qua, làng nghề gốm Bát Tràng có lúc thịnh lúc suy, nhưng tình yêu vô tận của người Bát Tràng đối với nghề nghiệp của tổ tiên đã giúp làng nghề tồn tại vững bền, phát triển theo thời gian.

3. Quy trình làm gốm Bát Tràng

Bạn đọc có thể thấy, gốm Bát Tràng không chỉ phát triển mạnh trong nước mà còn được rất nhiều nước biết đến và nhập khẩu. Như vậy, chắc hẳn chất lượng của gốm Bát Tràng phải rất tuyệt vời. Vậy thì tiếp theo đây, Vietgiftmart sẽ cung cấp đến bạn đọc quy trình làm gốm Bát Tràng từ A – Z, để xem những nghệ nhân nơi đây biến những cục đất thô sơ thành những sản phẩm gốm tinh xảo như thế nào nhé.

Lang Gom Bat Trang3

Thông thường, để làm nên 1 sản phẩm gốm hoàn thiện, các nghệ nhân tại Bát Tràng cần trải qua quy trình 9 công đoạn một cách tỉ mỉ. Thông tin cụ thể như sau:

2.1. Chọn đất làm gốm

Trước kia, tại Bát Tràng rất dồi dào nguyên liệu để làm gốm đó là đất cao lanh, tuy nhiên, đến ngày nay thì nguồn nguyên liệu đó đã cạn kiệt và người dân nơi đây phải đi tìm và nhập nguyên liệu từ các vùng đất khác.

Người dân Bát Tràng thường ngược sông Hồng lên vùng Sơn Tây, Phúc Yên, rồi rẽ qua sông Đuống, xuôi dòng sông Kinh Thầy đến Đông Triều và khai thác đất sét trắng ở Hồ Lao, Trúc Thôn. Ngoài ra, một số loại đất ở các vùng như Yên Bái, Hải Dương, Lào Cai, Phú Thọ cũng được chọn để làm gốm.

2.2. Xử lý và pha chế nguyên liệu tạo ra đất làm gốm

Sau khi đã chọn được đất để làm gốm, các nghệ nhân cần thực hiện công đoạn tiếp theo đó là xử lý và tiến hành pha chế nguyên liệu.

Thông thường, trong nguyên liệu thô thường có chứa rất nhiều tạp chất, bên cạnh đó, mỗi loại gốm khác nhau lại có những cách pha chế nguyên liệu khác nhau. Tuy nhiên, ở Bát Tràng, phương pháp xử lí đất truyền thống là xử lí thông qua ngâm nước trong hệ thống bể chứa, gồm 4 bể ở độ cao khác nhau.

  • Bể 1: Chuyên dùng để ngâm đất sét khô, đất sét khi ngâm nước sẽ bị phá vỡ kết cấu hạt nguyên thuỷ của nó và bắt đầu bị phân rã. Thông thường, đất sét khô sẽ được ngâm trong bể 1 từ 3 – 4 tháng.
  • Bể 2: Khi đất đã ngâm trong bể 1 được 3 – 4 tháng thì đánh thật đều và thóa xuống bể 2.
  • Bể 3: Hồ loãng từ bể 2 sẽ được múc sang bể 3 và để trong khoảng 3 ngày.
  • Bể 4: Khử mọi tạp chất còn sót lại trên đất sét.

2.3. Công đoạn tạo hình

Công đoạn tạo hình khi làm gốm tại Bát Tràng thường có 3 cách khác nhau. Cụ thể:

  • Cách 1: Vuốt hoặc be chạch (phương pháp này chỉ còn một số nghệ nhân có tay nghề cao vẫn đang làm)
  • Cách 2: In sản phẩm trong khuôn thạch cao định hình sẵn hình dáng (chỉ in các sản phẩm hình tròn như: bát, đĩa, chén…)
  • Cách 3: Đổ rót sản phẩm trong khuôn thạch cao có định hình các kiểu dáng từ tròn, méo, vuông, hình tượng, con vật….
  • Sau khi các sản phẩm đã được tạo hình xong, các nghệ nhân sẽ mang đi phơi khô và chuyển sang công đoạn kế tiếp.

2.4. Công đoạn tiện, sửa và chuốt hàng

Đây là công đoạn bắt buộc các nghệ nhân cần thực hiện thủ công bằng tay. Sản phẩm sau khi được phơi với độ ẩm tùy theo loại hàng thì người thợ sẽ tiến hành sửa, chuốt và vệ sinh sản phẩm. Sản phẩm từ công đoạn này ra phải đảm bảo nhẵn nhụi không còn thanh lam hay sắc cạnh và cần sắc nét như mong muốn.

2.5. Đắp, khắc, vẽ hoa văn, họa tiết lên sản phẩm

Công đoạn này đỏi hỏi người công nhân có con mắt thẩm mỹ cao và đôi bàn tay khéo léo của họa sĩ, nghệ sỹ thực thụ. Không đơn giản như vẽ trên giấy vẽ trên gốm sứ là một công việc đòi hỏi sự khéo léo, tỉ mỉ và phải có sự công phu rèn luyện cao. Đi kèm tay nghề cùng chất lượng màu vẽ thì sản phẩm mới có được những họa tiết sáng tạo làm nổi bật sản phẩm. Sau khi sản phẩm đã được trang trí hoa văn sẽ được chuyển đến chỗ sạch sẽ không bụi trước khi mang đi tráng men.

2.6. Công đoạn tráng men cho sản phẩm

ùy từng chủng loại hàng sẽ có những màu men khác nhau. Với những sản phẩm đắp nặn thì thường sử dụng men màu. Với những sản phẩm được trang trí khắc hay vẽ thì sẽ dùng màu men thấu quang, sáng màu và kỹ thuật tráng men mỗi loại cũng khác nhau.

2.7. Công đoạn đưa sản phẩm vào lò nung

Sau công đoạn 6, sản phẩm sẽ được đưa vào lò nung: Có các kiểu lò sau: Lò đàn, lò bầu, lò than, lò gas và lò điện. Ngày nay Bát Tràng thường sử dụng lò gas hoặc điện.

2.8. Công đoạn nung đốt

Sau khi sản phẩm đã được sếp vào lò theo quy chuẩn nhất định thì sẽ được nung đốt trong giải nhiệt độ từ 1.220 – 1.300 độ với hai môi trường hoặc khử hoặc ôxy. Công đoạn này quyết định rất nhiều đến chất lượng sản phẩm nên quy trình nung đốt và với kinh nghiệm lâu năm của người thợ phải rất khắt khe. Công đoạn này chủ yếu do các chủ lò trực tiếp vận hành.

2.9. Hoàn thiện

Sau khi đã nung xong, đồ gốm sẽ được các nghệ nhân đem đi trưng bày hoặc rao cho các đại lý.
Như vậy, bạn đọc có thể thấy, quy trình để làm nên 1 sản phẩm gốm tại Bát Tràng không hề đơn giản. Đó cũng là lý do mà khiến gốm Bát Tràng trở nên đặc biệt và phát triển lâu đời.

Trên đây là bài viết “Cùng Vietgiftmart tìm hiểu về làng gốm Bát Tràng”. Hy vọng bài viết hữu ích đối với bạn đọc.

Cảm ơn bạn đã theo dõi bài viết!

Sản phẩm Bộ Ấm Chén!

VIETGIFTMART HỘI TỤ TINH HOA VIỆT

Website: https://vietgiftmart.com

Hotline: 034 833 0022

Facebook: https://www.facebook.com/vietgiftmart/